Cơ sở dữ liệu của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cho thấy cá kiếm, cá mập, cá thu vua và cá ngừ mắt to là bốn loại cá có hàm lượng thủy ngân trung bình cao nhất, vượt xa mức khuyến cáo an toàn dành cho phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ.
- Bàn tay từng lao vào lửa cứu cha được phẫu thuật phục hồi
- Phú Quốc tăng tốc với 21 dự án hơn 137.000 tỷ đồng trước thềm APEC 2027
- Con đường trở về của một thanh niên từng lạc lối ở Đô Lương
Dữ liệu được công bố ngày 23/7/2026 cho thấy cá kiếm đạt trung bình khoảng 0,995 ppm thủy ngân, cá mập khoảng 0,979 ppm, cá thu vua khoảng 0,73 ppm và cá ngừ mắt to khoảng 0,689 ppm, trong khi cá hồi chỉ ở mức 0,022 ppm. Do đứng ở bậc cao trong chuỗi thức ăn tại vùng biển sinh sống, bốn loài cá này tích lũy methylmercury từ con mồi suốt vòng đời, khiến nguy cơ phơi nhiễm tăng lên nếu ăn thường xuyên.
Trong 636 mẫu cá kiếm được thống kê, hàm lượng thủy ngân trung bình đạt 0,995 ppm, mẫu cao nhất ghi nhận 3,22 ppm. Cá kiếm là loài săn mồi lớn, ăn mực và nhiều loại cá nhỏ trong suốt vòng đời, nên thủy ngân từ con mồi tiếp tục tích tụ mà không bị đào thải hoàn toàn.
Dữ liệu từ 356 mẫu cá mập cho thấy mức trung bình 0,979 ppm, mẫu cao nhất lên tới 4,54 ppm, cao nhất trong bốn loại cá được nêu. Cá mập có tuổi thọ dài và đứng ở vị trí cao trong chuỗi thức ăn, nên mức thủy ngân tích lũy còn phụ thuộc vào loài, kích thước, độ tuổi và vùng biển sinh sống.
Cá thu vua (king mackerel) chứa trung bình 0,73 ppm thủy ngân trong 213 mẫu khảo sát, dao động từ 0,23 ppm đến 1,67 ppm. Con số này cao gấp khoảng 8–15 lần so với cá thu Đại Tây Dương (0,05 ppm) và cá thu chub Thái Bình Dương (0,088 ppm), nên tên gọi chung “cá thu” không phản ánh đúng mức độ an toàn của từng loài.
Cá ngừ mắt to (bigeye tuna) có mức trung bình 0,689 ppm trong 21 mẫu, thấp nhất 0,128 ppm và cao nhất 1,816 ppm. Mức này cao gấp khoảng 5,5 lần cá ngừ đóng hộp loại “light” (0,126 ppm) và vượt cá ngừ albacore hay cá ngừ vây vàng (khoảng 0,35 ppm), bởi cá ngừ mắt to sống lâu hơn và đứng cao hơn trong chuỗi thức ăn so với cá ngừ vằn dùng làm đồ hộp.
Trong hệ thống phân loại dành cho phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ từ 1–11 tuổi, những loại cá có mức thủy ngân trung bình vượt 0,46 ppm được xếp vào nhóm nên tránh. Cả bốn loại cá kể trên đều vượt xa ngưỡng này.
Việc ăn một miếng cá kiếm hay cá ngừ mắt to không lập tức gây hại cho người trưởng thành khỏe mạnh. Nguy cơ tăng lên khi ăn thường xuyên, khiến lượng methylmercury tích lũy trong cơ thể theo thời gian, trong đó phụ nữ mang thai, có thể mang thai, đang cho con bú và trẻ nhỏ là nhóm cần thận trọng nhất vì thủy ngân ảnh hưởng đến hệ thần kinh đang phát triển.
Người tiêu dùng không cần loại bỏ cá khỏi thực đơn, nhưng nên ưu tiên các loại giàu dinh dưỡng và ít thủy ngân như cá hồi, cá mòi, cá cơm, cá rô phi, cá minh thái, cá trích và tôm. Theo FDA, cá hồi tươi hoặc đông lạnh chứa trung bình 0,022 ppm, cá mòi khoảng 0,01 ppm và tôm khoảng 0,01 ppm, thấp hơn nhiều so với cá kiếm hay cá mập.
Khi mua cá thu hoặc cá ngừ nhập khẩu, người mua cần đọc rõ tên loài thay vì chỉ nhìn tên gọi chung, bởi cá thu vua khác xa cá thu Đại Tây Dương và cá ngừ mắt to không giống cá ngừ vằn dùng trong đồ hộp. Phụ nữ mang thai và đang cho con bú được khuyến nghị ăn khoảng 2–3 khẩu phần cá ít thủy ngân mỗi tuần, tương đương 227g–340g, mỗi khẩu phần người lớn khoảng 113g.
Nấu chín, chiên hay nướng không loại bỏ đáng kể methylmercury đã tích lũy trong thịt cá. Cách giảm phơi nhiễm hiệu quả nhất vẫn là nhận diện đúng loài, chọn cá ít thủy ngân và kiểm soát tần suất ăn.
Phạm Mai (tổng hợp)